Mãng cầu xiêm

(Annona muricata L)

Ảnh chính của cây dược liệu

Mô Tả Tổng Quan

Cây nhỏ, cao 4 – 6 m, cành có nhiều mấu, nhẵn, màu xám nâu. Lá mọc so le, hình mũi mác – trái xoan hoặc trứng ngược, dài 10 – 12 cm, rộng 3 – 5 cm, gốc thuôn, đầu tù, hai mặt nhẵn có gân nổi rõ, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt; cuống lá mập, gấp khúc và nhẵn. Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá, màu lục vàng. Lá đài hình tam giác ngắn, có lông ở hai mặt; cánh hoa rộng và dày, góc thái hình tim, có lông; nhị nhiều, trung đới hình vuông; có lông; bầu thường. Quả hình cầu hoặc hình tim, hơi dẹt, vỏ ngoài có những nốt sần nhọn ứng với những múi ở trong, thịt màu trắng, vị ngọt chua; hạt màu đen. Mùa quả: tháng 3 – 5.

Thông Tin Phụ

Chưa có tài liệu liên quan.

Nguồn tham khảo: Đỗ Huy Bích và cs(2006), Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam, NXB Khoa học kĩ thuật

Chi Tiết Phân Loại
Họ: Annonaceae
Chi: Đang cập nhật
Tên khác: Muricatae custard apple – tice, soursop (Anh); corossolier, annone murique (Pháp)
Bộ phận dùng: Lá, quả và hạt, dùng tươi hay phơi khô.

Mãng cầu xiêm có nguồn gốc ở châu Mỹ, chỉ được nhập sang các nước nhiệt đới khác sau khi Côlômbô phát hiện ra châu Mỹ. Đó là cây ăn quả được trồng nhiều ở các nước vùng Nam Á, Đông – Nam Á, Trung và Nam Mỹ. Ở châu Á, mãng cầu xiêm có nhiều nhất ở Philippin, mỗi năm cho sản lượng khoảng 8500 tấn. Ở Việt Nam, mãng cầu xiêm được trồng nhiều ở các tỉnh phía Nam.

Đặc điểm chi tiết từng bộ phận:
  • Thân: Quả hình cầu hoặc hình tim, hơi dẹt, vỏ ngoài có những nốt sần nhọn ứng với những múi ở trong, thịt màu trắng, vị ngọt chua; hạt màu đen.
  • Lá: Lá mãng cầu xiêm chứa ít tinh dầu. Lá mãng cầu xiêm được dùng chữa sốt rét. Lấy 50 g lá tươi rửa sạch, giã nát, thêm nước, gạn uống với ít đường. Lá còn có tác dụng chữa ho.
  • Hoa: Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá, màu lục vàng. Lá đài hình tam giác ngắn, có lông ở hai mặt; cánh hoa rộng và dày, góc thái hình tim, có lông; nhị nhiều, trung đới hình vuông; có lông; bầu thường.
  • Quả/Hạt: Quả mãng cầu xiêm còn xanh, thái mỏng, phơi khô, tán bột, uống mỗi lần 4 – 8 g chữa kiết lỵ, ngày 2 lần.
  • Rễ: Đang cập nhật

Một số alcaloid khác có tác dụng sinh học cũng được tìm thấy trong một số cây họ na như diazafluoranthen, azoxoaporphin, azafluoren. … azanthracen (CA. 117, 178152 v). Những năm gần đây nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu các hợp chất acetogenin trong họ na do hợp chất này có nhiều hoạt tính quan trọng như tác dụng chữa ung thư, chữa sốt rét, diệt ký sinh trùng, kháng khuẩn và suy giảm miễn dịch kể từ khi J. R. Cole và cộng sự phát hiện ra loại hợp chất này đến nay đã chiết xuất và phân lập trên 100 hợp chất acetogenin, chủ yếu là trong các cây họ na. Cấu trúc của acetogenin là những dẫn xuất của axit béo mạch dài có chứa vòng tetrahydrofuran với nhiều nhóm chức khác như –OH, acetonyl, ceton dọc theo chuỗi hydrocarbon. Rupprecht J. Kent, Shuc Yu; CA. 119, 203444 (1); Phytochemistry 1996, 42 (2): 253–271; Phytochemistry 1993, 34 (1): 281–285. Có tác giả coi acetogenin là ngôi sao của thuốc chữa ung thư trong tương lai. Một số acetogenin có trong mãng cầu xiêm như: Neoisomannonacin (1) Isoneoannonacin (2) Muricatetrocin A (3) Muricatetrocin (4) Gigantetrocin B (5) Gigantetrocin A (6) Ngoài ra còn annonacin, isoannonacin, annonacin 10-on, isoannonacin 10-on, gonithalamin, gigantetrocin, diepomuricanin, epomuricenin A, ipomuricenin B, muricalacin, corossolin, howiicin A, B, dexyhowiicin B, neoannonacin 10-on, howiicin F, G, annonuricin, annonurin, muricin, muricinol. (Trung dược từ hải I/712; Phytochemistry 1993, 34 (1): 281–285).

Phân bố địa lý: Chi Annona L. có 125 loài, phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới châu Mỹ và châu Phi. Ở Việt Nam, có 4 loài, trong đó 3 loài là cây trồng gồm na (Annona squamosa L.), mãng cầu xiêm (A. muricata L.), bình bát (A. reticulata L.) (Nguyễn Tiến Bân, 2000. Thực vật chí Việt Nam, T. I – Annonaceae, NXB KH & KT, Hà Nội, 316 – 321).

Độ cao sinh trưởng: 1000m

Mùa thu hoạch: Tháng 3-5

Đặc điểm sinh thái: Cây ưa khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm, được trồng đến vĩ độ 25° Nam bán cầu ở độ cao đến 1000 m. Ở các tỉnh thuộc vùng núi cao trên 1000 m của Việt Nam không thấy trồng. Cây rụng lá vào mùa đông, không chịu được sương muối và ngập úng dài ngày, ra hoa quả hằng năm. Sau 4 – 5 năm trồng cây bắt đầu có quả với số lượng cũng như sản lượng tùy thuộc vào giống mãng cầu. Ở vùng Trung Mỹ và Hawaii cây trồng 35 năm vẫn thu được quả.

Bệnh Hại Thường Gặp:
Sốt cao

á mãng cầu xiêm được dùng chữa sốt rét. Lấy 50 g lá tươi rửa sạch, giã nát, thêm nước, gạn uống với ít đường. Lá còn có tác dụng chữa ho. Quả mãng cầu xiêm còn xanh, thái mỏng, phơi khô, tán bột, uống mỗi lần 4 – 8 g chữa kiết lỵ, ngày 2 lần. Ở Ấn Độ và Indonesia, thịt quả hoặc quả mãng cầu xiêm còn non có tác dụng chữa bệnh scorbut. Hạt giã nhỏ để được cá và hòa với nước để trừ sâu. Ở Haiti, nhân dân địa phương dùng lá mãng cầu xiêm sắc uống trị cúm, ho và suy nhược (có thể dùng dịch ép quả). Ở Peru, hạt hoặc lá giã nát trị ký sinh trùng, nước sắc lá uống trị lỵ.

Hướng Dẫn Sử Dụng & Lưu Ý:

Chỉ định: Đang cập nhật.

Chống chỉ định: Đang cập nhật.

Liều lượng: Đang cập nhật.

Bài thuốc dân gian: 1. Chữa sốt rét: a. Lá mãng cầu xiêm khô 20 g, vỏ rễ cây ổi 10 g, sao vàng, thái nhỏ, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm 2 lần trong ngày. b. Lá mãng cầu xiêm, lá na, lá trầu không, rau má, dòi đực, dòi cái, mỗi vị 7 lá hoặc đọt đối với nam, 9 đối với nữ; cỏ mần trầu một bụi sấy khô; gừng một miếng gọt vỏ, đường thẻ một miếng; 6 lỗ vỏ 4 – 5 ổ; phèn chua phi đổ vào vỉ sắt nóng đỏ, rồi đổ vào các vị thuốc, sắc uống. 2. Chữa ho: Lá mãng cầu xiêm, lá sả, mỗi vị 20 g. Sắc uống.

Tác dụng phụ: Đã nghiên cứu thấy 2 acetogenin là corossolon và corossollin phân lập từ hạt mãng cầu xiêm có tác dụng độc hại tế bào trong nuôi cấy tế bào với tôm nước lợ Artemia salina, có triển vọng là thuốc trị ung thư.


Thư Viện Hình Ảnh