1. Kỹ thuật trồng trọt, thu hái và sơ chế biến
a. Thời vụ
Ở Việt Nam, Cỏ ngọt cho thu hoạch quanh năm nhưng cho thu hoạch cao nhất vào khoảng thời gian từ tháng 4 - 11. Do đó thời vụ ưồng cỏ ngọt thích hợp nhất là khoảng thời gian từ tháng 3-9. Các tháng sau cần trồng dầy mới cho thu hoạch cao.
b. Nhân giống:
- Nhân giống hữu tinh
+ Thu hạt giống: Ruộng trồng để lấy giống phải' chọn nơi thoáng, nhưng tránh gió. Nếu có điều kiện nên trồng ưong nhà lưới. Cây mẹ trông làm giông phải được chăm sóc tốt, khỏe mạnh. Khi cây nở hoa nên thả côn trùng để đàm bào thụ phấn thụ tinh. Hạt chọn từ cành dưới trở lên, ở miền Bắc thường thu vào tháng 11, 12. Dùng bao hứng phía dưới rồi rung cho hạt chín già rụng vào bao, có thể cắt cả cây hoặc cả cành có quả hạt chín mang về đập lấy hạt. Sau khi đập, hạt phải được phơi khô, đóng gói kỹ. Bảo quản hạt giống tốt nhất là từ 5 - 8°c.
+ Vườn ươm: Chọn đất màu mỡ, dễ hút và thoát nước, kín gió, tưới tiêu thận lợi. Do hạt Cỏ ngọt có sức sống kém (hạt nôi nhũ rất nhỏ). Hạt Cò ngọt có tỷ lệ nảy mầm thấp, giai đoạn đầu sinh trưởng yếu. Trong điều kiện nhiệt độ cao, hạt cỏ ngọt dễ mất sức nảy mầm. Trong tự nhiên cỏ ngọt sinh sản bằng hạt nhưng yêu cầu những điều kiện nhất định nên khi gieo hạt cần chú ý: Làm đất trước khi gieo hạt 20 ngày, phải trộn đều đất và phân chuồng ủ hoai và lên luống. Luống rộng Im, cao 30cm. Làm sạch cỏ dại, dùng thuốc khử trùng đất. Lên luống cao, điều kiện thoát nước tốt, đất cần có độ tơi xốp. Tốt nhất nên gieo hạt cỏ ngọt trên đất cát pha, giàu chất hữu cơ, đảm bảo độ ẩm từ 80 - 85% (đất giống như dùng để gieo: bắp cải, cà chua). Ngâm hạt ở nước ấm từ 50 - 60°C khoảng 1-1,5 giờ, để ráo rồi trộn với cát khô gieo cho đều. sau khi gieo để 1 tấm vải màn thưa lên mặt luống rồi tưới cho đủ ẩm. Lượng hạt giống gieo là 0,5 g/m2. Nhiệt độ thích hợp cho quá trình này mầm là 20 - 25°c.
c. Chăm sóc cây giống: Sau gieo 8-10 ngày, hạt bắt đàu nẩy mầm. Lúc này cần dỡ bỏ rơm, nilon, giữ ẩm làm giàn cho cây con tránh nắng, mưa. Thường xuyến nhặt sạch cỏ dại, khi cây con có 4 - 5 lá có thể đem trồng, tốt nhất là khi cây 6 - 7 lá (tuổi cây con từ 2 - 2,5 tháng). Để cây sinh trường tốt có thể bổ sung lượng phân bón qua lá với một số loại phân Atonik 1.8 hoặc Đầu trâu 501 theo khuyến cáo cùa nhà sản xuất.- Nhân vô tính + Phương pháp nuôi cấy mô phân sinh meristema Môi trường thích hợp nuôi cỏ ngọt invitro là môi trường MS lỏng, hỗn hợp có indositol, sacaroza, vitamin tổng hợp và adenin. Dùng phương pháp nuôi cấy mô phân sinh mereslema có hiệu quả hơn so với phương pháp tạo mô sẹo, ra rễ sau khi cấy 7-10 ngày. Những cành ngọn lớn nhanh sẽ được giữ làm cành mẹ để nuôi cấy đợt sau. Những cành còn lại đưa ra đất cần có chế độ chăm sóc tốt mới có tỷ lệ sống cao. Khoảng 25 ngày sau khi cấy, khi cây đã tốt thì đem trồng ra ruộng, tuổi cây con từ 30 - 35 ngày. Ưu điểm của phương pháp này là nhân nhanh hàng loạt và nhân được cây con trong suốt mùa đông để có cây cung cấp cho vụ sớm.
+ Phương pháp giâm cành Chọn cành ngọn ở cây mẹ khoẻ có 4 - 6 tháng tuổi, dài 3 - 4cm, có từ 2 - 3 đốt. Xử lí chất kích thích NAA mùa hè từ 30 - 50ppm, mùa đông từ 150 - 200ppm cho ra rễ giâm vào trong khay có cát sạch, hàng ngày tưới nước giữ ẩm 80 - 85%. Sau khi giâm 5-10 ngày thì cành giâm ra rễ. Tuổi cây con tốt nhất là sau khi ra rễ 2 tuần (vụ hè) và 25 - 30 ngày (vụ đông), cây cao 15cm bộ rễ phát triển mạnh. Ưu điểm phương pháp này có thể nhân giống cây con vào mùa hè, trong điều kiện mô hình sàn xuất lớn, nhỏ. Các điều kiện nhịêt, ẩm độ không khí ảnh hường lớn đến khả năng ra rễ cũng như sự sinh trưởng của cành giâm. Nhiệt độ thích hợp cho cành dâm ra rễ là 25 - 30°C, độ ẩm không khí là 80 - 85%, ánh sáng khoảng 2.0001UX. Điều kiện nhiệt độ thấp hơn 20°C, độ ầm cao hoặc thấp quá cành giâm khó ra rễ - bị thối. Nếu nhiệt độ không khí cao hơn 35°c, độ ẩm hơn 79% cũng gây hiện tượng thối cành giâm, cần có nhà ươm cây giống đảm bảo những điều kiện sau: Kín gió nhưng thoáng; Che nắng trực xạ nhưng đàm bảo chế độ ánh sáng khoảng 1.500 - 2.000 lux; Giữ nhiệt độ trung bình 25 - 30°C, độ ẩm 85 - 90%. Ở môi trường cát và đất cành giâm ra rễ sớm nhất, tuy nhiên thời gian sau ở môi trường cát cây con sinh trưởng khoẻ và cho chất lượng cao hơn. Khi cây con đủ tuổi thì bứng ra trồng, không nên trồng sâu vì dễ bị thối cổ rễ, cũng không nên trồng quá nông cây sẽ bị đổ. Sau khi ưồng 3 ngày cần tưới đủ ẩm mỗi ngày 2 lần. Sau 1 tuần cây đã hồi xanh thì tiến hành bấm ngọn.
c. Làm đất, lên luống
- Cỏ ngọt không kén đất nhưng cho năng suất thu hoạch cao trên đất thịt pha cát có độ pH = 7, cấu trúc đất tơi xốp, độ phì cao, thoát nước tốt, mực nước ngầm thấp, đủ ẩm. Làm đất giống như làm đất rau, cày 2 lần sâu 22 - 30cm, bừa 2 lần, lên luống cao 30cm, mặt luống rộng khoảng 60 - 160cm tuỳ theo từng loại đất. Đất phải được cày sâu (ít nhất từ 20 - 30cm), bừa kỹ, dọn sạch tàn dư thực vật mang bệnh và cỏ dại, bón đù lượng phân bón lót theo yêu cầu và san phẳng mặt ruộng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cây sinh trưởng, phát triển đồng đều.
- Nên chọn những vùng đất có có độ pH từ 4,5 - 6, cấu trúc đất tơi xốp, nhiều mùn, độ phì cao, thoát nước tốt, mực nước ngầm thấp, đủ ẩm.
- Sau khi bón lót xong ta tiến hành lên luống, hiện nay Cò ngọt được trồng ở hai loại luống có kích thước bề mặt khác nhau tuy nhiên cả hai loại luống này đều cho năng suất cao và chất lượng lá tốt.
- Luống có bề mặt rộng 120cm, cao 30 - 35cm, rãnh rộng 35 - 40cm, bề mặt luống được san phẳng.
- Luống có bề mặt rộng 100m, cao 35cm, rãnh rộng 35 - 40cm, bề mặt luống được san phăng.
- Bắt buộc phải lên luống cao để giúp cây không bị úng khi gặp mưa to vào mùa hè, nếu không lên luống cao khi gặp mưa cây sẽ nhanh chóng bị chết do thối rễ.
- Sau khi lên luống xong tiến hành phun thuốc trừ cò tiền này mầm để hạn chế cỏ dại phát triển trong giai đoạn đầu của cây. Khi sử dụng thuốc trừ cỏ phải chú ý tới thời gian cách ly của thuốc, tránh trồng cây khi mới phun thuốc trừ cỏ, đồng thời bón lót phân chuồng và phân lân trước khi phủ nilon. Trước khi trồng nên tưới ẩm qua bề mặt luống để đất được ẩm, tránh làm tổn thương rễ khi trồng. Sau khi đã lên luống và bón lót, dùng màng nilon che phủ bề mặt luống và xới đất phù lên xung quanh bề mặt luống tránh gió làm xê dịch nilon, có thể đục lỗ nilon sau khi che phủ hoặc ngay trước khi trồng
- Mật độ
- Mật độ trồng ảnh hưởng lớn đến sự sinh trường, phát triển và năng suất của cây Cỏ ngọt. Việc xác định được mật độ trồng hợp lý tạo điều kiện cho cây có thể khai thác được tối đa dinh dưỡng, nước... hạn chế được sự phát triển của sâu bệnh và cỏ dại. Tuỳ vào mục đích khai thác và điều kiện đất trồng mà ta có thể trồng ở các mật độ khác nhau. Cây trồng với mục đích thu thương phẩm trồng ở mật độ 170.000 cây/ha với khoảng cách trồng là 20 X 20cm.
- Đất có độ phì trung bình mật độ hợp lí là 30 X 15cm. Đất có độ phì cao nên sử dụng với mật độ và khoảng cách (30 X 20cm), (40 X 15cm), (25 X 25 cm) và mật độ 20 cây/m2. Tuỳ theo các loại hàng dọc, ngang hoặc nanh sấu.
- Trước khi trồng nên tưới ẩm qua bề mặt luống để đất đủ ẩm, tránh làm tổn thương rễ khi trồng. Sau khi trồng nên phủ 1 lớp rom, rạ mùn để giữ ẩm và chống cỏ dại, tăng độ tơi xốp cho đất.
- Dùng dầm để trồng, khi trồng chú ý trồng cây sâu từ 1,5 - 2cm kể từ cổ rễ tới mặt đất, ấn nhẹ tay để giữ cây đứng vững. Sau khi trồng xong cần tưới đẫm cho cây được chặt gốc và cung cấp nước cho cây trong những ngày đầu.
- Mật độ cây trồng trên đơn vị diện tích cần phải được duy trì bằng cách liên tục kiểm soát tỷ lệ chết của cây để thay thế bằng một cây con khác
- Phân bón: Cây cho thu hoạch nhiều lứa trong năm, do đó cần lượng dinh dưỡng lớn. Sản phẩm thu hoạch là lá xanh, vì vậy muốn thu hoạch cao cần phải bón nhiều phân, nhưng' cần bón cân đối lượng N, p, K mới đem lại hiệu quà cao nhất. Không nên bón đạm nhiều quá làm tăng lượng đạm nitrat trong lá, giảm phẩm chất:
- Lượng phân bón: 15 - 16 tấn phân chuồng/ha. Phân đạm urê (46% N): 500kg. Lân lâm thao (16,5 P2O5): 500 - 600 kg/ha. Phân Kali sunfat (56 - 60% K2O): 150 - 200 kg/ha/mỗi lứa hái
- Cách bón: Bón lót toàn bộ phân hữu cơ (phân chuồng đã hoai mục) với lượng 15-16 tấn/ha (5,5 - 6 tạ/sào Bắc Bộ) kết hợp với bón 500kg lân super/ha. Sau trồng 2 ngày phun phân bón lá và thuốc trừ nấm cho cây để kích thích rễ cây phát triển và kháng nấm bệnh cho cây, nên phun vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát và phun ướt mặt lá. Phân bón lá thường sử dụng cho cây cỏ ngọt là ĐT502 (sản phẩm phân bón lá của Bình Điền). Duy trì phun phân bón lá cho cây một tuần một lần. Sau trồng 10 ngày bón thúc lần 1 cho cây, có thể sử dụng phân tổng hợp N:P:K loại 13:13:13 của Bình Điền hoặc 12:5:10 của nhà sản xuất Lâm Thao. Neu không có phân tổng hợp có thể dùng phân đơn để thay thế. cần hoà tan phân vào nước rồi tưới cho cây, khi tưới tránh tưới trực tiếp vào gốc cây, nên tưới vào giữa hai hàng. Sau trồng 30 ngày bón thúc lần 2 cho cây với liều lượng và phương pháp bón như lần 1. Trong quá trình cây sinh trưởng phát triển cần thường xuyên kiểm tra đồng ruộng phát hiện sâu bệnh và phòng trừ kịp thời, làm cỏ xới đất tốt, đàm bào cho cây phát triển tốt. Chú ý: Khi bón phân tránh bón trực tiếp vào gốc cây, nên tưới vào giữa hai hàng; đối với những cây trồng bằng phương pháp phủ nilon rắc phân vào xung quanh lỗ cách gốc 5 - 7cm
d. Chăm sóc cây cỏ ngọt
- Cỏ ngọt yêu cầu tơi xốp, độ thoáng cao, cần xới đất thường xuyên, đặc biệt ở giai đoạn đàu. Khi mới trồng cây còn nhỏ, yếu, sinh trưởng chậm cần làm cỏ kịp thời. Sau mỗi lần cắt nên xới nhặt sạch cỏ và bón thúc. Sau các trận mưa lớn khi se mặt luống cần xới cho thoáng đất.
- Ngay sau khi trồng cần tưới nước đẫm cho cây, trong những ngày đầu cần duy trì độ ầm từ 80 - 85% cho cây. Dùng thùng doa tưới cho cây một ngày hai lần hoặc có thể lấy nước vào 1/2 rãnh. Cỏ ngọt là cây ưa ẩm nhưng không chịu úng. Độ ẩm thích hợp 70 - 80%, lượng nước tưới cần là 500 - 600 m3/ha. Chú ý giữ ẩm vào thời kỳ ngay sau khi trồng và lúc cây con. Nếu thời tiết khô hạn cần tưới rãnh, 7-10 ngày tưới 1 lần.
- Chăm sóc sau thu hoạch Ngay sau khi thu hoạch cần phun thuốc trừ nấm ngay vì nếu không nấm sẽ tấn công vào cây qua những vết cắt mà khi thu hoạch ta để lại, do vậy phun thuốc nấm sẽ giúp khả năng đề kháng của cây được tăng cường cây khoẻ mạnh không bị chết. Sau khi thu hoạch cần làm sạch cỏ, tưới nước. Sau khi đã làm sạch cỏ bón phân cho cây với lượng phân như lần bón thúc đầu tiên và bón sau thu hoạch 3-5 ngày. Khi bón phân cho cây ta có thể hoà vào nước tưới hoặc rắc đều trên mặt luống rồi tưới nước ẩm cho đất
- Chăm sóc hàng năm Cây Cỏ ngọt là một cây lâu năm do vậy dể cây có thể cho năng suất cao và ổn định qua các vụ thì cần có chế độ chăm sóc hàng năm cho cây. Trong vụ đông ở miên Bắc, nhiệt độ xuống thấp kết hợp với khí hậu hanh khô nên cây cỏ ngọt phát triển chậm, cần tiến hành cắt tia các cành nhỏ, cành yếu trên thân chính của cây tạo cho cây một bộ khung khoè ưong vụ đông. Chú ý thường xuyên tưới ẩm cho đất đảm bào độ ẩm đất tối thiểu luôn duy trì ở độ ẩm 60 - 65%. Bên cạnh việc duy trì độ ẩm cho đất ta cần cung cấp thêm phân hữu cơ giúp đất tơi xốp, màu mỡ và giữ ẩm tốt, phân chuồng cho một sào Bắc Bộ (360m2) khoảng 5-6 tấn/ha. Trước khi bón cần làm sạch cỏ, rắc đều phân lên mặt luống và xới xáo hót đất ở rãnh phủ lên mặt luống
e. Phòng trừ sâu bệnh Cây rất ít sâu bệnh vào mùa đông (từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau). Chủ yếu chi bị rệp vừng, nhện trắng, đỏ và sâu ăn lá tấn công nhưng rất dễ phòng trừ bằng các loại thuốc trừ sâu, nhện thông thường. Trong giai đoạn từ tháng 2 đến tháng 9 hàng năm cây dễ bị nhiễm bệnh, đặc biệt là nấm. Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh, cũng như nhiều loại vi rút gây hại cho cây cỏ ngọt.
- Bệnh đốm đen lá cây cỏ ngọt (Septoria Steviaè)
Đặc điểm nhận biết: Lúc đầu trên lá xuất hiện các đốm đen, sau lan rộng làm lá bị khô đen, ảnh hường đến chất lượng cũng như năng suất của lá.
Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Septoria Steviae gây ra.
Bệnh phát sinh phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao, ẩm ướt, mưa nhiều (đặc biệt là mưa phùn), trồng mật độ dày, làm tầng lá phía dưới bị che kín. Xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn chuẩn bị thu hoạch
- Bệnh sùi thân {Keloid trunk Disease}
Lúc đầu, ở phần thân frên mặt đất xuất hiện những vết sùi, tạo thành cục xù xốc màu vàng xám, trông như những vết sẹo lớn. Sau đó, từ vết sùi đó sẽ mọc lên những mầm rất nhỏ, ngắn, lá quăn queo, biến dạng và gần như không phát triển. Do một loại tảo kí sinh gây ra.
Bệnh phát sinh trong điều kiện đất lâu không được xới xáo, độ ẩm cao, bị úng nước ờ rãnh lâu, trồng với mật độ dày làm ở gốc cây thiếu ánh nắng thường xuyên. Biện pháp canh tác: Thường xuyên xới xáo, hạn chế tưới rãnh mà nên dùng doa tưới cho cây, nếu tưới rãnh thì sau khi dùng gáo tưới lên mặt luống thì tháo nước khỏi ruộng ngay. Nếu cây đã bị bệnh thì dùng kéo cắt bỏ phần thân trên mặt đất bị nhiễm bệnh đi, mầm ở gốc sẽ bật lên, khoẻ mạnh bình thường
- Rệp vừng {Aphid): Chúng thường tụ tập xung quanh mô mềm của chồi, đặc biệt là các đỉnh chồi, phần đốt thân và phần dưới lá, chúng hút nhựa và tạo ra những vùng nhạt màu trên lá.
Rệp vừng làm lá cây bị biến dạng, méo mó, không có hình thù xác định, đinh sinh trưởng bị co ngắn lại, không phát triển, không kẻo dài ra được. Neu quan sát kỹ sẽ thấy kiến thường bò lên chỗ rệp vừng tập trung, đó là do chúng lấy chất đường do rệp vừng tiết ra. Rệp vừng xuất hiện trên cây quanh năm, chủ yếu gây hại phẩn non của cây.
Biện pháp canh tác: Thường xuyên làm sạch cỏ trong ruộng và cỏ bờ, vì cỏ dại (cài dại, đơn buốt...) là kí chủ của rệp, từ cỏ dại, rệp sẽ lây lan sang cây cỏ ngọt. Trồng đúng mật độ, bón phân đầy đủ và cân đổi N, p, K sẽ giúp cây khỏe mạnh và hạn chế được sự gây hại của nhện.
Biện pháp sinh học: Hạn chế phun thuốc để bào tồn thiên địch thường xuất hiện trên đồng ruộng.
Biện pháp hóa học: Trong trường hợp phát hiện thấy rệp ở mật độ thấp không nên phun thuốc theo định kỳ vừa gây nhờn thuốc, vừa diệt hết các thiên địch có ích để diệt rệp vừng non và trưởng thành. Chỉ nên phun thuốc khi mật độ tăng cao, có gây hại lớn và khả năng phát dịch vào lúc cây đang trong giai đoạn lá non, cành non
Phun một số loại thuốc trừ sâu sau: Dầu khoáng Citrole 96,3 EC; Mospilan 3 EC; Fastac 5 EC; Sherpa 25EC; Sumicidin 10EC; Sumi alpha 5EC; Trebon 10EC
- Nhện trắng {White mite)
Đặc điểm nhận biết: Nhện trắng làm cho các lá ngọn và chồi hoa bị biến dạng. Nước bọt có chúa độc tố của nhện làm cho ngọn cây bị xoắn, cứng và phát triển méo mó. Nhện thường được nhìn thấy trên các lá mới và ngọn non. Các lá có nhện thường cong xuống và có màu đồng hay tía. Các lóng thu ngắn lại và các chồi nách mọc ra nhiều hơn bình thưởng. Nếu quan sát kĩ ở mặt dưới lá bị bệnh, ta có thể thấy những đốm trắng rất nhỏ đang chuyển động, đó là nhện trắng. Hoa không phát triển và sự phát triển cây bị ức chế khi nhện tấn công với số lượng lớn.
Nguyên nhân gây hại: Do một loài nhện trắng Polyphagotarsonemus latus (Banks) gây ra
Đặc điểm phát sinh, gây hại: Nhện trắng phát sinh trong điều kiện độ ẩm và nhiệt độ không khí cao, đặc biệt là thời điểm sau tết âm lịch, tốc độ lan truyền của nhện trăng rất nhanh.
Biện pháp canh tác: Trồng đúng mật độ, không nên trồng dày làm cây thiếu ánh sáng tạo điều kiện cho nhện trắng sinh sôi này nở và gây hại. Thường xuyên làm sạch cỏ, bón phân đầy đủ và cân đối NPK giúp cây khỏe mạnh thì hạn chế được sự gây hại của nhện
Biện pháp sinh học: Hạn chế phun thuốc để bảo tồn thiên địch thường xuất hiện trên đồng ruộng
Biện pháp hóa học: Trong trường hợp phát hiện thấy mật độ thấp không nên phun thuốc theo định kỳ vừa gây nhờn thuốc, vừa diệt hết các thiên địch có ích có tác dụng diệt nhện non và nhện trưởng thành. Chi nên phun thuốc khi mật độ tăng cao, có khả năng gây hại lớn và khả năng phát dịch vào lúc cây đang trong giai đoạn lá non, cành non
Phun một số loại thuốc sau: Feat 25EC; Đầu trâu Bihopper; Ortus 5EC; Comite 73EC; Nitac 20EC; Kumulus 80 DF; Citrole 96,3 EC.
Ngoài ra còn có các loại sâu hại thưởng gặp là sâu xám, bọ mạt (Rsonemus sp), bọ trĩ, rệp, tuyến trùng gây xoăn lá và hại bộ rễ ở cây trưởng thành
f. Thu hoạch và bào quản
Khối lượng thân lá và chất lượng cỏ ngọt đạt cao nhất vào giai đoạn bắt đầu ra hoa, do đó việc thu hoạch cần tiến hành ở giai đoạn hình thành nụ.
Chú ý: khi thu hoạch cần cát để lại một số lá phía đoạn gốc (cách mặt đất để lại 15 - 20cm).
Cỏ ngọt cho thu 8-10 lứa/năm. Sau ưồng 35 -40 ngày cỏ bắt đầu cho thu hoạch lứa đầu (vào giai đoạn cây hình thành nụ). Sau thu hoạch 5-7 ngày, cần xới xáo, bón thúc. Kéo dài 25 - 30 ngày (mùa thu đông) do vụ thu đông cây nhanh ra nụ nên số lần thu cần tăng lên, ngoài ra còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và chăm sóc.
Nếu đảm bảo đủ yêu cầu dinh dưỡng và chăm sóc tốt mỗi lứa cắt cho 200 - 250 kg/ha, mỗi năm có thể thu được 2 - 2,5 tấn lá khô/ha
Trước thu hoạch 1-2 ngày không tưới nước, thu lúc sáng sớm khi cây có nụ.
Lần thứ nhất cắt cách gốc 15 - 20cm. Sau 5 - 6 lần thu khi cây vào già, gốc to nâu cần đốn sát đất và trẻ hoá cây và tăng so cành hữu hiệu
Khi thu hoạch về cần rửa sạch, phơi nắng hoặc sấy thông gió cho đến khi khô hẳn. Lá khô cần bảo quản trong túi ni lon tránh hút ẩm, chọn nơi khô thoáng, hàm lượng nước tự do khi bảo quản dưới 10%, tạp chất dưới 5%
Khi thu hoạch cần để lại 3 - 5 cặp lá trên thân chính để cây nhanh ra mầm và lá non mới
Sơ chế các sản phẩm từ cỏ ngọt:
- Cỏ ngọt có thể làm nguyên liệu và thực phẩm sau:
- Dạng lá khô: Dùng lá khô để làm chè uống thay nước giài khát. Để có sản phẩm lá khô có chất lượng cao, cần đảm bảo các nguyên tắc chính: Thu hoạch vào những ngày nắng. Rửa sạch, phơi ngay có màu xanh sáng. Phơi hoặc sấy khi lá còn độ ẩm 9- 10% là đạt yêu cầu. Để nguội đóng bao ni lon 2 lớp hoặc sau khi ép lá đóng gói theo quy trình công nghiệp.
- Dạng Siro: Từ lá tươi hoặc khô, trong điều kiện 1 amôtphe t° = 85°c, chiết suất bằng hơi nước, sẽ nhận được một dung dịch lỏng tựa mật ong, gọi là siro đặc, loại siro này có độ ngọt gấp 100 lần so với đường sacaroza, bảo quản trong lọ nhựa, lọ thuỷ tinh ở nơi khô mát. Từ siro chế được các sản phẩm dùng trong y học và công nghiệp, dạng siro này giữ nguyên được thành phần của cây cỏ ngọt như: steviozit, rebaudiozit- a, rebaudiozit - b, c, d, steviolbiozit...
- Dạng bột khô: từ lá tươi, lá khô, hoặc từ siro bằng phương pháp sấy phun trong môi trường giảm áp và nhiệt độ 85 - 95°c sau 1 thời gian sẽ có dạng bột màu vàng trứng. Dạng này phải bảo quản trong môi trường chân không (trong ống tiêm hoặc lọ đựng penixilin). Bột cỏ ngọt có độ ngọt từ 150 - 250 lần so với đường thực phẩm, dùng làm nguyên liệu sử dụng trong y học và công nghiệp thực phẩm như làm bánh kẹo, nước giải khát... Đây là nguyên liệu cao cấp dùng để làm thức ăn cho người bị bệnh đái đường, bệnh xơ cứng động mạch, bệnh béo phì...
- Dạng tinh thể: ngoài siro và bột, từ lá cỏ ngọt có thể chiết xuất tạo thành tinh thể, tinh thể có màu trắng trong giống mì chính cánh, tinh thể có độ ngọt gấp 300 lần so với đường thực phẩm (saccaroza). Quy trình tinh chế Cò ngọt khá phức tạp, giá thành sản phẩm cao
- Các sản phẩm từ cỏ ngọt
Việt Nam đã sử dụng cỏ ngọt trong một số sản phẩm làm thuốc, nước giải khát tuy nhiên vẫn đang ờ mức khảo nghiệm.
+ Chè Atiso - Cỏ ngọt:
Thành phần: Lá, thân, rễ Atiso, cỏ ngọt và hương liệu thiên nhiên.
Công dụng: Làm nước giải khát, mát gan, thông mật, giải độc, hạ cholesterone. + + Chè Sâm quy - cỏ ngọt:
Thành phần: Sâm Ngọc linh, Tam thất, Đương quy, Thục địa, táo, Long nhãn, Ngũ gia bì và cỏ ngọt.
Công dụng: Bổ huyết, tăng lực, tiêu hoá, tiêu độc, giải nhiệt, giúp giảm tiểu đường, ngủ ngon... được sản xuất tại Trung tâm Cây thuốc Đà Lạt.
+ Chè sotevin
Thành phần: Lá Dừa cạn, Cúc hoa, Hoa hoè và cỏ ngọt.
Công dụng: Tăng sức đàn hồi, làm bền vững thành mạch, lưu thông khí huyết, lợi tiểu, hạ huyết áp, chống nhiễm xạ. Được sản xuất tại Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 2 - Hà Nội.
(Trích nguồn: Đoàn Thị Thanh Nhàn, Ninh Thị Phíp (2015), Giáo trình Cây Thuốc, NXB Đại Học Nông nghiệp)
Bạn cần đăng nhập để bình luận.